Tap chi địa kỹ thuật 2 - 2005

Cường độ kháng cắt là chỉ tiêu quan trọng để tính toán ổn định của đập, của các mái dốc và công trình ngầm được xây dựng trên nền đá và trong khối đá. Tuy nhiên việc xác định góc ma sát và lực dính của khối đá là một nhiệm vụ rất khó khăn vì khối đá là một môi trường đặc biệt luôn tồn tại các khe nứt. Trong những thập kỷ qua, các nhà khoa học trên thế giới đã tập trung nhiều công sức giải quyết vấn đề này để đáp ứng các đòi hỏi cấp bách của việc xây dựng các công trình lớn trên nền đá. Bài báo này điểm qua các phương pháp xác định cường độ kháng cắt của khối đá và nêu lên một số vấn đề còn tồn tại cần trao đổi.

Tap chi địa kỹ thuật 3 - 2005

Theo quan điểm địa kỹ thuật, lòng sông gồm hai bộ phận: đáy sông và bờ sông có liên quan về mặt ổn định với dòng nước sông. Động năng của dòng chảy tạo khả năng xâm thực đứng và xâm thực ngang đối vơi lòng sông. Ơ từng thời điểm nhất định trong cuộc đời một con sông, có sự cân bằng động của lòng sông với dòng nước sông. Do có sự thay đổi của yếu tố dòng chảy, hoặc lưu lượng tăng lên, hoặc do thay đổi mực nước ngầm ở lũng sông, hoặc do khai thác cát ở lòng sông, hoặc do làm kè, mỏ hàn ở một nơi nào đó , hoặc do v v , sự cân bằng động ở nơi nào đó bị phá vỡ với hậu quả là đáy sông bị bào xói, bờ sông bị trượt lở để tạo nên sự cân bằng mới của lòng sông. Trượt đất là hiện tượng tự nhiên để tạo nên sự cân bằng mới cho mái đất, vách đất Nếu sự cân bằng mới được duy trì thì hiện tượng trượt đất sẽ dừng lại và ngược lại, nếu không có biện pháp đảm bảo sự cân bằng thì sự trượt lại tiếp diễn để tạo nên sự cân bằng mới tiếp theo. Do vậy, sự trượt đất bờ sông ‘’không duy trì” là hiện tượng tự nhiên của mọi con sông và thường xẩy ra theo chu kỳ rất rõ ràng Vấn đề đặt ra là tìm giải pháp kỹ thuật để duy trì sự cân bằng của lòng sông (tức ngăn chặn sự trượt ở một nơi nào đó tiếp diễn) sau đã bị trượt hoặc có dấu hiệu báo trước sự trượt đất

Tap chi địa kỹ thuật 4 - 2005

Mối quan hệ ứng suất biến dạng của đá phản ánh sự ứng xử của đá dưới tác dụng của tải trọng. Đây thường là mối quan hệ phi tuyến. Tuy nhiên, trong nhiều bài toán kỹ thuật thường giới hạn ở vùng biến dạng tuyến tính của đá để áp dụng các lời giải của lý thuyết đàn hồi. /. Tác giả Nghiêm Hữu Hạnh

Tap chi địa kỹ thuật So3-06

Các quá trình và tai biến địa chất phát sinh và phát triển dưới ảnh hưởng của rất nhiều các yếu tố, có những yếu tố giữ vai trò rất quan trọng, có những yếu tố mà ảnh hưởng của chúng không nhận rõ được.

Tạp chí Địa kỹ thuật So 2- 2006

Nhìn chung, khái niệm nền đất yếu bao hàm các loại đất sét yếu, đất với tỷ phần hạt mịn (như bột) cao hoặc đất sét chứa hàm lượng nước cao, đất chứa nhiều than bùn và các tập cát lỏng ở gần hoặc dưới mực nước ngầm. Đối với các loại đất dạng sét, “độ yếu” của chúng có thể đánh giá trên cơ sở sức kháng nén không nở hông

Tạp chí địa kỹ thuật số 1 2006

Tạp chí địa kỹ thuật số 1 2006 Khác với nền đất, có ít giáo trình, sách và tạp chí kỹ thuật đề cập đến khả năng chịu tải của nền đá. Hiện nay ở Việt nam đang khảo sát, thiết kế và xây dựng nhiều đập bê tông cao có ứng suất pháp lớn tác dụng lên nền đá. Thực tế thấy rằng nhiều kỹ sư đã rất lúng túng khi xác định sức chịu tải cho phép của nền đá và có nhiều quan niệm lầm lẫn. Bài báo này giới thiệu các phương pháp xác định sức chịu tải của nền đá và đính chính một số quan niệm không đúng thường mắc phải.

Rạp chí địa kỹ thuật 4- 2006

Abstract: To study a geotechnical problem it can be investigated by a full scale model at a site. However, due to the naturally variable soil properties it is difficult to take all into consideration. To overcome this, the investigated problem is normally scaled down and investigated in a laboratory where soil properties can be stricly controlled. In this paper, physical modelling will be outlined and a specific 1-g model is given.

Tap chi (Dia ky thuat) So1-07

Trong ánh bình minh của thế kỷ 21, loài người như dòng chảy của sông đang đổ dồn về đới ven biển. Dự kiến đến năm 2010 sẽ có khoảng 54% dân số thế giới sinh sống trong khu vực từ bờ biển vào sâu trong đất liền 90 km (Charlier & De Meyer, 1998). Để bảo vệ khu vực ven biển, đến nay rất nhiều các công trình đã được xây dựng, đặc biệt là đê biển.

Tap chi (Dia ky thuat) So 2-07

Vật liệu gia cường có thể là kim loại hoặc không phải là kim loại và có thể có các dạng như: dải, lưới, thanh hoặc sợi. Vật liệu hạt rời (granular) được sử dụng trong nền đường để đáp ứng được các yêu cầu về truyền ứng suất, tính bền và thoát nước (Sêco e Pinto, 1993).

Tap chi (Dia ky thuat) So 3-07

Đất ngoài hiện trường thường thể hiện tính dị hướng về cường độ hoặc độ cứng. Tính dị hướng của đất có thể được chia thành dị hướng có sẵn (Arthur và Menzies, 1972) và dị hướng do ứng suất gây ra (Arthur và nnk, 1977).

Tạp chí (Địa kỹ thuật) Số 01_09

Phani Kumar et al. (2000 & 2004) đã báo cáo về kết quả thí nghiệm trên các mô hình nhỏ của neo cọc vật liệu rời chịu lực kéo kháng lại hiện tượng nhổ trong đất trương nở. Đất được xử lý như vậy tự điều chỉnh để thích nghi với các biển đổi về độ ẩm tốt hơn so với đất không được xử lý, do cọc có tính thấm cao.

Tạp chí (Địa kỹ thuật) Số 02_09

Cố kết động (DC) là phương pháp xử lý nền cơ học làm tăng độ chặt của đất nền bằng cách sử dụng ngoại lực tác dụng trong khoảng thời gian ngắn (đầm chặt). Phương pháp này thường được sử dụng để làm chặt đất rời tự nhiên hoặc đất đắp với hàm lượng hạt mịn (đường kính hạt nhỏ hơn 63 m) không vượt quá 20 tới 35%. Kết quả xử lý cho ta thấy

Tạp chí (Địa kỹ thuật) Số 03_09

Vị trí các thí nghiệm xuyên tiêu chuẩn (SPT) và thí nghiệm PMT tại khu vực xây dựng trước khi xử lý được thể hiện trong hình 10. Số liệu về đất nền và các số liệu xuyên SPT -N30 (ví dụ B47 và B53), thí nghiệm PMT của đất nền khi chưa xử lý (ví dụ PMT-19 và PMT-20) được trình bày trong hình 11 và 12.

Tạp chí (Địa kỹ thuật) Số 04_09

Tai biến địa chất là hậu quả tất yếu do môi trường địa chất bị biến đổi bởi tác động của các yếu tố tự nhiên hoặc nhân tạo. Các tai biến này thể hiện cụ thể bằng những hiện tượng địa chất hoặc địa chất công trình, như hiện tượng trượt lở, xâm thực bờ sông và bờ biển, hiện tượng động đất, hiện tượng lún ướt, biến dạng nền móng công trình v.v.

Tạp chí địa kỹ thuật số 1 2010

Tạp chí địa kỹ thuật số 1 2010

Tạp chí địa kỹ thuật số 2 2010

Số đặc biệt chào mừng đại hội toàn quốc Hội cơ học đất - Địa kỹ thuật công trình Việt Nam và kỷ niệm 15 năm ngày thành lập Viện Địa Kỹ Thuật (1995-2010)

Tạp chí địa kỹ thuật số 3 2010

Tạp chí địa kỹ thuật số 3 2010

Tạp chí địa kỹ thuật số 1 2012

Tạp chí địa kỹ thuật số 1 2012

Tạp chí địa kỹ thuật số 2 2012

Tạp chí địa kỹ thuật số 2 2012

Tạp chí địa kỹ thuật số 3 - 2012

Tạp chí địa kỹ thuật số 3 - 2012

Tạp chí địa kỹ thuật số 4 2012

Tạp chí địa kỹ thuật số 4 2012

Tạp chí địa kỹ thuật số 2 -2015

Tạp chí địa kỹ thuật số 2 -2015

Tạp chí ĐỊA KỸ THUẬT 3- 2015

Tạp chí ĐỊA KỸ THUẬT 3- 2015

Tạp chí ĐỊA KỸ THUẬT 4- 2015

Tạp chí ĐỊA KỸ THUẬT 4- 2015

Tạp chí ĐỊA KỸ THUẬT 1- 2016

PHẠM NGỌC TRƯỜNG, ĐỖ ANH DŨNG: Phân tích tương tác kết cấu vỏ giếng với nền đất xung quanh thi công theo tổ hợp cơ giới đào giếng VSM8000

Tạp chí ĐỊA KỸ THUẬT 2- 2016

Tạp chí ĐỊA KỸ THUẬT 2- 2016

Tạp chí ĐỊA KỸ THUẬT 3- 2016

Biến dạng dư của nền đất khi động đất mạnh ở Hà Nội - TG: NGUYỄN ĐỨC MẠNH

Tạp chí địa kỹ thuật số 1 2018

Tạp chí ĐỊA KỸ THUẬT ISSN - 0868 - 279X NĂM THỨ 22 SỐ 1 NĂM 2018

Tạp chí địa kỹ thuật số 2+3 2018

Tạp chí địa kỹ thuật số 2+3 năm 2018

Tạp chí địa kỹ thuật số 4 2018

Tạp chí địa kỹ thuật số 4 năm 2018

Tạp chí địa kỹ thuật số 1+2 2019

Tạp chí địa kỹ thuật số 1+2 2019

Tạp chí địa kỹ thuật số 3 2019

Tạp chí địa kỹ thuật số 3 2019

Tạp chí địa kỹ thuật số 4 2019

Tạp chí địa kỹ thuật số 4 năm 2019

Công ty: VGI
Điện thoại: 22141917
Email: viendkt@vusta.vn
Address: 152 Lê Duẩn - Đống Đa - Hà Nội